Điểm hoà vốn của trường mầm non là số trẻ tối thiểu mà doanh thu vừa đủ trang trải toàn bộ chi phí trong tháng. Công thức cơ bản: số trẻ hoà vốn = chi phí cố định hằng tháng ÷ (doanh thu bình quân thực thu mỗi trẻ − biến phí mỗi trẻ). Ví dụ giả định: chi phí cố định 300 triệu đồng, mỗi trẻ thực thu 4,5 triệu và tốn 1 triệu biến phí, thì cần 300 ÷ 3,5 ≈ 86 trẻ mới không lỗ.
Công thức thì đơn giản, cái khó nằm ở ba chỗ: xác định đúng chi phí nào là cố định, dùng doanh thu thực thu thay vì giá niêm yết, và hiểu rằng ở trường mầm non chi phí "cố định" thực ra đi theo bậc thang mỗi khi mở thêm lớp. Bài này đi qua từng thành phần, ví dụ tính từng bước, ba loại điểm hoà vốn khác nhau mà nhà đầu tư nên tách, và những yếu tố làm điểm hoà vốn âm thầm trôi lên.
Từng thành phần trong công thức nghĩa là gì
Chi phí cố định là những khoản phải trả dù trường có 40 hay 120 trẻ trong một quy mô lớp đã mở: tiền thuê mặt bằng, lương ban giám hiệu và văn phòng, lương giáo viên và bảo mẫu của các lớp đang mở, bảo hiểm bắt buộc phần đơn vị đóng, bảo vệ, phần mềm quản lý, bảo trì định kỳ, khấu hao nếu tính điểm hoà vốn kế toán. Tiền điện nước có một phần cố định (điều hoà, chiếu sáng chạy dù lớp thưa) và một phần theo số trẻ.
Biến phí mỗi trẻ là chi phí tăng thêm khi có thêm một trẻ: thực phẩm, học liệu tiêu hao, đồ dùng cá nhân trường cấp, một phần điện nước, phí thanh toán nếu phụ huynh trả qua cổng có phí. Ở mầm non, biến phí thuần thường nhỏ so với học phí, phần lớn nằm ở tiền ăn. Đây là lý do mỗi trẻ thêm vào sau điểm hoà vốn đóng góp gần trọn vào lợi nhuận.
Doanh thu bình quân thực thu mỗi trẻ là số tiền trung bình một trẻ thật sự mang lại mỗi tháng sau mọi giảm trừ, hoàn tiền ngày nghỉ và nợ khó đòi, cộng phần phí một lần đã chia đều theo tháng. Dùng giá niêm yết ở đây là sai lầm làm điểm hoà vốn thấp giả. Hiệu số giữa doanh thu bình quân và biến phí gọi là lãi trên biến phí mỗi trẻ: số tiền mỗi trẻ góp vào "thùng" chi phí cố định. Thùng đầy thì hoà vốn, mỗi trẻ thêm sau đó là lãi.
Tính điểm hoà vốn từng bước: ví dụ giả định
Ví dụ dưới đây là số giả định cho một trường sáu lớp, chỉ để minh hoạ cách tính. Thay bằng số của chính bạn theo đúng thứ tự.
- Cộng chi phí cố định tháng. Tiền thuê 90 triệu, lương và bảo hiểm cho sáu lớp cùng bộ máy văn phòng, bếp 175 triệu, phần cố định của điện nước 15 triệu, phần mềm, bảo trì, marketing duy trì 20 triệu. Tổng 300 triệu đồng.
- Tính doanh thu bình quân thực thu. Biểu phí trung bình các gói 5 triệu; giảm trừ bình quân (anh chị em, đóng dài hạn, ưu đãi) khoảng 8%; hoàn tiền ngày nghỉ và nợ đọng khoảng 2%. Thực thu ≈ 5 × 0,9 = 4,5 triệu mỗi trẻ.
- Tính biến phí mỗi trẻ. Thực phẩm khoảng 0,8 triệu, học liệu và đồ dùng tiêu hao 0,1 triệu, phần điện nước theo trẻ 0,1 triệu. Tổng 1 triệu.
- Lấy lãi trên biến phí. 4,5 − 1 = 3,5 triệu mỗi trẻ.
- Chia. 300 ÷ 3,5 ≈ 85,7, làm tròn lên 86 trẻ. Với sức chứa thiết kế giả định 120 trẻ, tỷ lệ lấp đầy hoà vốn là 86 ÷ 120 ≈ 72%.
- Đặt câu hỏi ngược. Khu vực này có đủ phụ huynh để trường đạt và giữ 86 trẻ không? Mất bao lâu mới tới? Trong thời gian đó lỗ tích luỹ bao nhiêu?
Bước cuối là bước hay bị bỏ. Một tỷ lệ lấp đầy hoà vốn trên bảy mươi phần trăm không có nghĩa dự án tồi, nhưng nghĩa là biên an toàn mỏng: chỉ cần sĩ số hụt vài lớp so với dự kiến là trường lỗ. Nếu con số này lên tới tám mươi lăm, chín mươi phần trăm, cần xem lại tiền thuê hoặc cấu trúc lương trước khi ký bất cứ thứ gì.
Hoà vốn theo lớp: vì sao chi phí cố định không cố định thật
Trong sách giáo khoa, chi phí cố định là một đường thẳng nằm ngang. Ở trường mầm non, nó giống bậc thang. Mỗi lớp mở thêm kéo theo ít nhất một giáo viên và một bảo mẫu, có khi thêm suất cô nuôi, thêm điện điều hoà cho một phòng. Vì vậy ngoài điểm hoà vốn cả trường, người vận hành nên tính thêm điểm hoà vốn của từng lớp: một lớp cần tối thiểu bao nhiêu trẻ để trang trải chi phí trực tiếp của chính lớp đó.
Lấy tiếp số giả định: chi phí trực tiếp một lớp (giáo viên, bảo mẫu, bảo hiểm, phần điện nước của phòng) khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng, lãi trên biến phí mỗi trẻ 3,5 triệu. Lớp cần khoảng 9 trẻ mới tự trả được chi phí trực tiếp, chưa kể phần gánh tiền thuê và bộ máy chung. Hệ quả thực tế: mở một lớp mới chỉ với năm, sáu trẻ là làm tăng lỗ trong ngắn hạn, dù về lâu dài có thể đúng nếu lớp sẽ đầy.
Quyết định mở lớp vì thế là quyết định tài chính chứ không chỉ là quyết định chuyên môn. Nhiều trường gộp lớp ghép độ tuổi trong giai đoạn đầu, trong phạm vi quy định cho phép, để không phải mở một phòng với vài trẻ. Ngược lại, nhồi trẻ vào lớp sẵn có vượt sĩ số hợp lý để né chi phí mở lớp là con đường dẫn tới mất chất lượng, mất phụ huynh và vi phạm quy định. Mô hình tốt cho bạn thấy đúng thời điểm mở lớp tiếp theo: khi lớp hiện có gần đầy và danh sách chờ đủ lấp lớp mới tới mức hoà vốn trực tiếp trong vài tháng.
Ba điểm hoà vốn nhà đầu tư nên tách
Cùng một trường có thể có ba con số hoà vốn khác nhau, tuỳ đưa khoản nào vào chi phí cố định. Mỗi con số trả lời một câu hỏi khác.
| Loại | Chi phí cố định gồm | Trả lời câu hỏi |
|---|---|---|
| Hoà vốn tiền mặt (vận hành) | Chi phí trả bằng tiền hằng tháng, không gồm khấu hao | Từ bao nhiêu trẻ thì trường không phải bơm thêm tiền để chạy hằng tháng? |
| Hoà vốn kế toán | Chi phí tiền mặt cộng khấu hao cải tạo, thiết bị | Từ bao nhiêu trẻ thì trường bắt đầu có lợi nhuận kế toán, tức bắt đầu "trả lại" vốn đã bỏ ra? |
| Hoà vốn có trả nợ | Chi phí tiền mặt cộng tiền gốc và lãi vay phải trả mỗi tháng | Từ bao nhiêu trẻ thì trường tự trả được khoản vay mà chủ không phải bù? |
Với một trường đi vay để cải tạo, điểm hoà vốn có trả nợ thường cao nhất và là con số quan trọng nhất trong giai đoạn đầu. Ngân hàng không quan tâm trường hoà vốn kế toán ở mức bao nhiêu trẻ; họ quan tâm mỗi tháng có đủ tiền trả gốc lãi không. Ngược lại, một nhà đầu tư dùng vốn tự có và muốn biết bao giờ vốn quay về nên nhìn điểm hoà vốn kế toán.
Biên an toàn: khoảng cách giữa sĩ số thật và điểm hoà vốn
Biên an toàn là phần sĩ số vượt trên điểm hoà vốn, tính bằng phần trăm của sĩ số hiện tại. Công thức: (sĩ số hiện tại − số trẻ hoà vốn) ÷ sĩ số hiện tại. Ví dụ giả định: trường có 100 trẻ, hoà vốn ở 86 trẻ, biên an toàn là 14%. Nghĩa là nếu mất 14 trẻ, trường về mức hoà vốn; mất nhiều hơn là lỗ.
Con số này giúp nhà đầu tư cảm nhận rủi ro tốt hơn chữ "có lãi". Hai trường cùng lãi 40 triệu mỗi tháng có thể rất khác nhau: một trường lãi nhờ có 30 trẻ vượt điểm hoà vốn, một trường chỉ vượt 10 trẻ nhưng mỗi trẻ đóng phí cao. Trường thứ hai mong manh hơn, vì mất 10 trẻ, điều có thể xảy ra trong một mùa có trẻ lên lớp Một hay một trường mới mở cạnh bên, là về không.
Khi xem một cơ hội mua lại, hãy tính biên an toàn trên sĩ số thấp nhất trong mười hai tháng gần nhất chứ không phải sĩ số tháng đẹp nhất. Khi tự vận hành, theo dõi biên an toàn mỗi tháng như một chỉ số sức khoẻ: nó co lại liên tục trong vài tháng là tín hiệu cần xem tuyển sinh, giữ chân hoặc chi phí trước khi lợi nhuận kịp chuyển sang âm.
Điểm hoà vốn còn là công cụ đàm phán. Trước khi ký thuê, thử đổi tiền thuê trong mô hình và xem số trẻ hoà vốn thay đổi bao nhiêu: với số giả định ở trên, mỗi 10 triệu đồng tiền thuê tháng tương đương gần ba trẻ phải tuyển thêm chỉ để đứng yên. Đặt con số đó lên bàn giúp cuộc đàm phán với chủ nhà cụ thể hơn — xin miễn tiền thuê trong thời gian cải tạo, giãn lịch tăng giá, hay đổi một phần tiền thuê cố định thành phần theo doanh thu trong năm đầu đều có thể quy ra được bằng số trẻ.
Những thứ làm điểm hoà vốn trôi lên mà không ai để ý
Giảm trừ cộng dồn. Mỗi ưu đãi riêng lẻ đều có lý do: anh chị em, đóng cả năm, khai trương, giới thiệu bạn. Cộng lại, doanh thu bình quân có thể giảm một khoản đáng kể so với biểu phí, và mỗi phần trăm giảm doanh thu bình quân làm điểm hoà vốn tăng nhiều hơn một phần trăm vì lãi trên biến phí co lại.
Lương tăng mà học phí đứng yên. Tăng lương để giữ giáo viên là cần thiết, nhưng nếu học phí không được điều chỉnh tương ứng qua nhiều năm, lãi trên biến phí bị bào mòn đều đặn và điểm hoà vốn nhích lên từng năm.
Tiền thuê tăng theo hợp đồng. Nhiều hợp đồng thuê dài hạn có điều khoản tăng giá định kỳ. Mô hình dùng tiền thuê năm đầu cho cả mười năm sẽ cho điểm hoà vốn thấp giả ở những năm sau.
Dịch vụ mới có biến phí cao. Thêm bữa phụ đắt tiền, xe đưa đón, giáo viên bản ngữ tính theo giờ — mỗi dịch vụ có doanh thu nhưng cũng có chi phí riêng. Nếu định giá dịch vụ không trang trải nổi chi phí của nó, dịch vụ đó kéo lãi trên biến phí chung xuống.
Thay đổi cơ cấu độ tuổi. Lớp nhà trẻ nhỏ tuổi thường cần nhiều người chăm hơn trên mỗi trẻ. Nếu trẻ nhỏ chiếm tỷ trọng lớn hơn dự kiến, chi phí nhân sự trên mỗi trẻ tăng dù tổng sĩ số không đổi.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ lấp đầy hoà vốn bao nhiêu là hợp lý với trường mầm non?
Không có con số chuẩn chung, vì phụ thuộc tiền thuê, mức phí và cấu trúc lương từng nơi. Nhìn chung, tỷ lệ càng thấp thì biên an toàn càng rộng. Nếu mô hình cho thấy phải lấp gần kín chỗ mới hoà vốn, nên xem lại tiền thuê, quy mô hoặc mức phí trước khi quyết định.
Có nên tính khấu hao vào điểm hoà vốn không?
Nên tính cả hai. Điểm hoà vốn không có khấu hao cho biết khi nào trường tự chạy được bằng tiền mặt; điểm hoà vốn có khấu hao cho biết khi nào trường bắt đầu thực sự sinh lời trên vốn đã bỏ ra. Nhầm hai con số này dễ khiến chủ trường tưởng có lãi trong khi vốn cải tạo chưa được bù.
Tiền ăn của trẻ nên tính vào doanh thu hay để riêng?
Nếu trường tự tổ chức bếp và thu tiền ăn, tiền ăn là doanh thu và thực phẩm là biến phí, nên tính cả hai trong công thức. Nếu chỉ thu hộ để trả cho đơn vị cung cấp suất ăn với mức chênh không đáng kể, có thể tách riêng để khỏi làm phình doanh thu bình quân.
Trường đã qua điểm hoà vốn có cần theo dõi tiếp không?
Cần, vì điểm hoà vốn thay đổi mỗi khi tiền thuê, lương, mức phí hay cơ cấu độ tuổi thay đổi. Nên tính lại ít nhất trước mỗi năm học và mỗi khi có thay đổi lớn về chi phí, đồng thời theo dõi biên an toàn hằng tháng.
Điểm hoà vốn khác thời gian thu hồi vốn thế nào?
Điểm hoà vốn là mức sĩ số để một tháng không lỗ. Thời gian thu hồi vốn là bao lâu để tổng tiền lãi tích luỹ bù lại toàn bộ vốn đã bỏ ra, gồm cả cải tạo và khoản lỗ giai đoạn đầu. Trường có thể đạt điểm hoà vốn tháng sau một năm nhưng mất nhiều năm mới thu hồi vốn.
Một lớp nên có bao nhiêu trẻ mới đáng mở?
Tính chi phí trực tiếp của lớp chia cho lãi trên biến phí mỗi trẻ để ra số trẻ hoà vốn trực tiếp, sau đó xem danh sách chờ có đủ đưa lớp tới mức đó trong vài tháng không. Sĩ số tối đa thì theo quy định về độ tuổi và diện tích, không vượt để đổi lấy lợi nhuận.