DauTuMamNon.comĐầu Tư Mầm Non
Mặt bằng và cơ sở vật chất

Diện tích trường mầm non: từ mét vuông ra sức chứa và trần doanh thu

Sức chứa trường mầm non không tính bằng tổng mét vuông mà bằng chỗ hẹp nhất: phòng lớp, sân, vệ sinh, bếp hay lối thoát. Cách tính từng bước và ví dụ giả định.

Top-down view of an empty preschool classroom floor with small round tables, colorful floor mats and low wooden shelves, a tape measure lying across the floor, soft daylight

Diện tích trường mầm non được quy về sức chứa qua định mức diện tích bình quân cho mỗi trẻ ở từng loại không gian (phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, sân chơi, khu vệ sinh) và số trẻ tối đa mỗi nhóm lớp theo độ tuổi; sức chứa thật của một căn nhà là con số nhỏ nhất trong các phép tính đó, không phải tổng diện tích chia cho một hệ số. Định mức chính thức nằm trong tiêu chuẩn cơ sở vật chất trường mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thông tư 13/2020/TT-BGDĐT), tiêu chuẩn thiết kế TCVN 3907:2011 và Điều lệ trường mầm non; bạn cần đối chiếu bản hiện hành trước khi chốt.

Sức chứa là trần doanh thu. Mọi kế hoạch tài chính của một trường đều bắt đầu từ câu hỏi "tối đa nhận được bao nhiêu trẻ", và rất nhiều kế hoạch hỏng ngay ở đây vì chủ đầu tư lấy tổng diện tích sàn chia đều, quên rằng cầu thang, hành lang, bếp, kho, phòng y tế, văn phòng chiếm một phần đáng kể, và quên rằng trẻ nhà trẻ không thể xếp lên tầng cao như trẻ mẫu giáo lớn. Bài này đưa ra cách tính từng bước để bạn đi từ bản vẽ hiện trạng ra con số sức chứa đáng tin.

Ba lớp quy định cùng quyết định một con số

Lớp thứ nhất là tiêu chuẩn cơ sở vật chất. Thông tư 13/2020/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất cho các trường mầm non và phổ thông, chia thành mức tối thiểu và các mức cao hơn. Văn bản này nêu các khối phòng mà một trường cần có (khối phòng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ; khối phòng hành chính quản trị; khối phụ trợ; khu sân vườn) cùng yêu cầu diện tích bình quân cho trẻ ở những không gian chính. Đây là văn bản cơ quan giáo dục dùng khi xem xét điều kiện cơ sở vật chất.

Lớp thứ hai là tiêu chuẩn thiết kế TCVN 3907:2011 về trường mầm non, nói tới yêu cầu về vị trí, quy hoạch khu đất, chiếu sáng, thông gió, số tầng, cầu thang và các phòng chức năng. Kiến trúc sư hay kỹ sư cải tạo sẽ đọc kỹ văn bản này; với chủ đầu tư, chỉ cần hiểu nó giới hạn những gì có thể làm với một căn nhà sẵn có.

Lớp thứ ba là Điều lệ trường mầm non (ban hành kèm Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT), quy định số trẻ tối đa trong mỗi nhóm trẻ và lớp mẫu giáo theo độ tuổi, cùng cách tổ chức nhóm lớp. Con số này đặt trần cho từng phòng bất kể phòng rộng tới đâu. Ba lớp quy định có thể được sửa đổi, bổ sung; nhiều địa phương có hướng dẫn riêng khi áp dụng với nhà phố cải tạo. Vì vậy mọi con số định mức nên được kiểm lại với văn bản hiện hành và hỏi Sở Giáo dục và Đào tạo nơi đặt trường, không nên dựa vào số đọc được trên mạng.

Tính sức chứa từng bước

Cách làm dưới đây dùng được với mọi căn nhà, chỉ cần một bản vẽ hiện trạng có kích thước từng phòng và các định mức bạn đã kiểm với văn bản hiện hành.

  1. Loại trừ diện tích không dùng cho trẻ. Gạch khỏi bản vẽ cầu thang, hành lang thoát nạn, bếp, kho, phòng y tế, văn phòng, phòng giáo viên, khu kỹ thuật. Phần còn lại là diện tích có thể làm phòng sinh hoạt chung và phòng ngủ. Với nhà phố, phần này thường chỉ còn khoảng một nửa đến hai phần ba tổng sàn.
  2. Xác định tầng nào được dùng cho độ tuổi nào. Trẻ nhỏ nhất cần ở tầng thấp nhất, gần lối ra. Tầng cao chỉ dành cho trẻ mẫu giáo lớn hơn hoặc phòng chức năng, trong giới hạn số tầng mà tiêu chuẩn cho phép. Bước này thường làm sức chứa giảm mạnh ở nhà nhiều tầng.
  3. Tính số trẻ mỗi phòng theo định mức diện tích. Lấy diện tích phòng chia cho định mức diện tích bình quân mỗi trẻ của loại phòng đó. Nếu phòng sinh hoạt chung dùng luôn làm chỗ ngủ, phải theo cách tính áp dụng cho trường hợp đó.
  4. Áp trần số trẻ của nhóm lớp. So số vừa tính với số trẻ tối đa của nhóm lớp theo độ tuổi trong Điều lệ. Lấy số nhỏ hơn. Phòng rộng không làm tăng trần của nhóm lớp.
  5. Kiểm các điểm nghẽn chung. Số khu vệ sinh và thiết bị vệ sinh cho trẻ, diện tích sân chơi, công suất bếp, số lối thoát nạn và chiều rộng cầu thang. Mỗi thứ là một trần riêng cho toàn trường.
  6. Lấy con số nhỏ nhất. Sức chứa toàn trường là tổng trẻ các phòng sau khi áp trần, rồi so với các trần chung ở bước năm. Con số nhỏ nhất là sức chứa thiết kế; trong mô hình tài chính nên lấy thấp hơn một chút làm sức chứa vận hành, vì lớp hiếm khi đầy đúng từng chỗ.

Sau sáu bước, nhiều chủ đầu tư ngạc nhiên vì con số thấp hơn nhiều so với ước tính ban đầu. Ngạc nhiên ở bước tính toán vẫn tốt hơn ngạc nhiên khi đoàn kiểm tra tới và yêu cầu giảm số trẻ.

Một ví dụ giả định: nhà phố bốn tầng

Ví dụ giả định để thấy cách các điểm nghẽn hoạt động. Một căn nhà phố có bốn tầng, mỗi tầng khoảng một trăm mét vuông sàn. Sau khi trừ cầu thang, hành lang, bếp ở tầng trệt, văn phòng và kho, phần dùng được cho trẻ còn khoảng hai phần ba. Nếu chia đều cho bốn tầng, chủ đầu tư nghĩ có thể làm tám phòng nhóm lớp. Nhưng tầng trệt phải dành phần lớn cho bếp, sảnh đón trả và phòng y tế, chỉ còn chỗ cho một nhóm trẻ nhỏ.

Tầng hai và tầng ba làm được bốn phòng cho trẻ mẫu giáo. Tầng bốn, nếu vượt giới hạn số tầng được dùng cho phòng học, chỉ dùng làm phòng năng khiếu hoặc phòng đa năng, không tính là chỗ cố định cho một nhóm lớp. Lúc này sức chứa đã giảm còn khoảng năm nhóm lớp thay vì tám. Tiếp theo, kiểm khu vệ sinh: nếu căn nhà chỉ có một khu vệ sinh mỗi tầng, mỗi khu phục vụ được hai phòng là vừa, còn ba phòng chung một khu sẽ thành điểm nghẽn giờ sinh hoạt.

Cuối cùng là sân chơi. Căn nhà không có sân đất, chỉ có sân thượng. Nếu sân thượng được cải tạo an toàn và đủ định mức thì ổn; nếu không, cơ quan giáo dục có thể yêu cầu phương án sân chơi khác, và đây là chỗ nhiều nhà phố bị đánh giá thấp nhất. Con số cuối cùng trong ví dụ thấp hơn gần một nửa so với ước tính ban đầu bằng cách chia tổng diện tích. Các con số trong ví dụ chỉ để minh hoạ cơ chế, không phải định mức thật.

Những điểm nghẽn hay gặp và cách nới

Mỗi điểm nghẽn có cách nới khác nhau, tốn kém khác nhau. Bảng dưới giúp bạn biết điểm nào đáng bỏ tiền cải tạo và điểm nào nên chấp nhận.

Điểm nghẽnBiểu hiệnCách nớiMức tốn kém
Cầu thang và lối thoátChỉ một cầu thang, rộng không đủ cho số người các tầng trênLàm thêm cầu thang thoát nạn ngoài nhà nếu đất và chủ nhà cho phépCao, phụ thuộc kết cấu
Khu vệ sinh trẻÍt thiết bị, cao không vừa trẻ, xa phòng lớpCải tạo lại khu vệ sinh theo chiều cao trẻ, thêm thiết bịTrung bình
Sân chơiKhông có sân đất, sân thượng chưa an toànCải tạo sân thượng có lan can, mái che một phần, sàn mềmTrung bình đến cao
BếpBếp gia đình nhỏ, không bố trí một chiều đượcDời bếp, hoặc chuyển sang thuê suất ăn nếu được chấp nhậnTrung bình
Tầng caoPhần diện tích lớn nằm trên tầng không được dùng làm lớpDùng làm phòng chức năng, văn phòng, kho; chấp nhận sức chứa thấp hơnThấp, nhưng mất sức chứa

Nhìn bảng sẽ thấy: điểm nghẽn ở cầu thang và tầng cao là điểm nghẽn cấu trúc, khó nới; điểm nghẽn ở vệ sinh và bếp là điểm nghẽn cải tạo, nới được bằng tiền. Một căn nhà nghẽn ở cấu trúc nên bị trừ điểm nặng ngay từ vòng chọn mặt bằng.

Từ sức chứa tới trần doanh thu và điểm hoà vốn

Khi đã có sức chứa vận hành, phép tính trần doanh thu khá đơn giản: số trẻ nhân với mức thu trung bình mỗi trẻ mỗi tháng, cộng các dòng thu phụ nếu có. Điều đáng chú ý là chi phí mặt bằng gần như cố định, nên mỗi chỗ trẻ mất đi do tính sức chứa sai sẽ trừ thẳng vào lợi nhuận chứ không chia đều cho chi phí.

Một chỉ số nên tính ngay khi so sánh các mặt bằng là tỷ lệ chi phí thuê trên trần doanh thu, tức tiền thuê một tháng chia cho doanh thu tối đa một tháng khi đầy lớp. Tỷ lệ này cao thì trường phải gần như đầy mới có lãi, biên an toàn mỏng; tỷ lệ thấp thì trường chịu được giai đoạn lấp lớp chậm. Mỗi phân khúc có một vùng tỷ lệ chấp nhận được khác nhau, và không có con số chung đúng cho mọi trường; nhưng so giữa các căn với nhau thì chỉ số này rất hữu ích.

Cuối cùng, sức chứa thiết kế không phải sức chứa bạn đạt được trong năm đầu. Một trường mới thường lấp lớp dần. Mô hình tài chính nên chạy với nhiều kịch bản lấp đầy theo thời gian, và câu hỏi quan trọng là ở kịch bản chậm nhất, dòng tiền có chịu được không. Cách lập mô hình chi tiết nằm trong danh mục tài chính và dòng tiền của trang.

Những sai lầm hay gặp khi tính diện tích

Sai lầm thứ nhất là tính theo tổng diện tích sàn ghi trên giấy tờ nhà. Diện tích ghi trên giấy có thể gồm cả ban công, tường, cầu thang, thậm chí phần cơi nới chưa được công nhận. Diện tích làm việc phải là diện tích đo thực tế từng phòng, sau khi trừ các phần không dùng cho trẻ.

Sai lầm thứ hai là quên tách độ tuổi. Một phòng đủ chỗ cho lớp mẫu giáo lớn không có nghĩa là đủ cho nhóm trẻ nhỏ, vì trẻ nhỏ cần chỗ ngủ, chỗ thay tã, vệ sinh sát phòng và tỷ lệ cô trên trẻ cao hơn. Kế hoạch tuyển sinh theo độ tuổi phải khớp với bố trí phòng ngay từ đầu.

Sai lầm thứ ba là coi sân thượng hay tầng lửng là chỗ tính sức chứa mà chưa hỏi ý kiến. Các không gian này có thể dùng tốt cho hoạt động, nhưng việc được tính vào định mức hay không phụ thuộc đánh giá an toàn và quan điểm của cơ quan cấp phép. Sai lầm thứ tư là dùng sức chứa tối đa làm giả định doanh thu năm đầu. Bốn sai lầm này đều làm mô hình đẹp trên giấy và hụt trong thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Có cách nào tăng sức chứa mà không đổi mặt bằng không?

Có vài cách: tách phòng ngủ riêng để phòng sinh hoạt chung không phải trừ chỗ ngủ, dời văn phòng và kho lên tầng không được dùng làm lớp, cải tạo khu vệ sinh để bỏ điểm nghẽn. Nhưng không thể vượt trần số trẻ mỗi nhóm lớp hay giới hạn tầng; mọi thay đổi bố trí nên được hỏi ý kiến trước khi đầu tư.

Định mức diện tích mỗi trẻ ở thành phố và nông thôn có khác nhau không?

Tiêu chuẩn cơ sở vật chất có phân biệt định mức diện tích khu đất theo khu vực, vì quỹ đất đô thị hạn hẹp hơn. Định mức cho các phòng chức năng thì thường áp dụng chung. Con số cụ thể nên đọc trực tiếp trong văn bản hiện hành, vì các bản sửa đổi có thể điều chỉnh và hướng dẫn địa phương có thể chi tiết hơn.

Nhóm trẻ độc lập có phải theo đủ định mức như trường mầm non không?

Nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập có quy định riêng, thường nhẹ hơn về quy mô và một số phòng chức năng nhưng vẫn có yêu cầu về diện tích, an toàn, vệ sinh và số trẻ tối đa. Nội dung chi tiết nằm ở danh mục pháp lý và giấy phép; ở đây chỉ cần nhớ mô hình nhỏ cũng có trần sức chứa riêng.

Nên để dư bao nhiêu so với sức chứa thiết kế khi lập kế hoạch?

Không có tỷ lệ chuẩn, nhưng người trong nghề thường lập kế hoạch vận hành thấp hơn sức chứa thiết kế một chút, vì trẻ vào ra giữa năm, có lớp không đủ trẻ đúng độ tuổi và cần chỗ cho trẻ học thử. Quan trọng hơn là chạy mô hình với nhiều mức lấp đầy để biết điểm hoà vốn nằm ở đâu.

Diện tích sân chơi có tính chung cho cả trường hay theo từng lớp?

Sân chơi thường được tính theo định mức bình quân trên tổng số trẻ của trường, và có thể dùng luân phiên theo giờ. Tuy vậy, nếu sân quá nhỏ so với số trẻ, lịch luân phiên sẽ dày tới mức mỗi lớp ra sân rất ít, ảnh hưởng chất lượng chăm sóc và hình ảnh với phụ huynh. Nên xem sân là điểm nghẽn thật.

Ai nên làm bản vẽ hiện trạng và tính sức chứa?

Nên thuê đơn vị đo vẽ hoặc kiến trúc sư có kinh nghiệm công trình giáo dục làm bản vẽ hiện trạng chính xác. Phần tính sức chứa thì chủ đầu tư nên tự làm song song theo các bước trong bài để hiểu con số của mình, rồi đối chiếu với tư vấn. Hai con số lệch nhau là tín hiệu cần hỏi lại giả định.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918 83 22 83