Chủ trường mầm non có ba cách đưa tiếng Anh vào trường: tự tuyển và quản lý giáo viên, thuê một trung tâm hay đơn vị cung cấp giáo viên theo giờ, hoặc hợp tác ăn chia doanh thu với một đơn vị mang cả chương trình lẫn người dạy. Cách thứ nhất cho lợi nhuận và quyền kiểm soát cao nhất nhưng đòi năng lực quản lý chuyên môn và chịu rủi ro nhân sự; cách thứ hai đơn giản, chi phí rõ nhưng phụ thuộc nhà cung cấp; cách thứ ba ít vốn nhất nhưng trường nhường một phần lớn biên lợi nhuận và một phần quyền quyết định.
Chọn cách nào phụ thuộc vào vị trí của tiếng Anh trong định vị trường. Nếu tiếng Anh là lý do chính phụ huynh chọn trường, như các trường song ngữ, thì phải nắm được nó trong tay. Nếu tiếng Anh chỉ là một dịch vụ cộng thêm bên cạnh chương trình chính, thuê hoặc hợp tác thường hợp lý hơn. Bài viết so sánh ba mô hình dưới góc vốn, chất lượng, pháp lý và hợp đồng; phần phương pháp dạy trẻ học tiếng Anh thuộc các site chuyên về chương trình, không bàn ở đây.
Khung pháp lý cần biết trước khi chọn mô hình
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình làm quen với tiếng Anh dành cho trẻ em mẫu giáo kèm Thông tư 50/2020/TT-BGDĐT. Điểm chủ trường cần nắm là tinh thần của chương trình này: cho trẻ làm quen chứ không dạy như một môn học có kiểm tra, tổ chức ở nơi có điều kiện và trên cơ sở tự nguyện của cha mẹ. Nội dung, thời lượng và cách tổ chức cụ thể nên đối chiếu văn bản gốc và hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo nơi trường hoạt động, vì cách áp dụng có thể khác nhau theo địa phương và có thể được sửa đổi.
Thứ hai là chuyện người dạy. Giáo viên người Việt dạy tiếng Anh cho trẻ mầm non cần đáp ứng yêu cầu về trình độ và năng lực ngoại ngữ theo hướng dẫn hiện hành. Giáo viên người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần giấy phép lao động hoặc thuộc diện miễn theo quy định, cùng với yêu cầu về bằng cấp và chứng chỉ giảng dạy. Ai đứng ra ký hợp đồng lao động và lo giấy phép là điểm khác nhau căn bản giữa ba mô hình, nên cần làm rõ trước khi bàn tới tiền.
Thứ ba là ranh giới giữa hoạt động trong trường và hoạt động của một trung tâm ngoại ngữ. Nếu đơn vị đối tác tổ chức lớp tại trường như một trung tâm, thu tiền trực tiếp từ phụ huynh, thì có thể phát sinh câu hỏi về điều kiện hoạt động của trung tâm đó và địa điểm được phép. Đây là lý do nhiều trường chọn để chính trường thu tiền và ký với đối tác dưới dạng hợp đồng cung cấp dịch vụ giáo dục, nhưng cách làm đúng cho từng trường hợp cần hỏi cơ quan quản lý giáo dục và người hiểu luật.
So sánh ba mô hình đưa tiếng Anh vào trường
Bảng dưới không có ô nào là đúng hay sai tuyệt đối. Mỗi mô hình phù hợp với một giai đoạn và một định vị trường khác nhau.
| Tiêu chí | Tự tổ chức | Thuê theo giờ | Hợp tác ăn chia |
|---|---|---|---|
| Vốn và chi phí ban đầu | Cao: tuyển dụng, giấy phép lao động, học liệu, đào tạo | Thấp: trả theo tiết hoặc theo tháng | Rất thấp: đối tác mang người và học liệu |
| Phần lợi nhuận trường giữ | Toàn bộ phần đóng góp | Chênh lệch giữa mức thu và chi phí thuê | Một tỷ lệ doanh thu theo thoả thuận |
| Kiểm soát chất lượng | Cao nhất, trường tự đánh giá giáo viên | Trung bình, phụ thuộc cam kết của nhà cung cấp | Thấp hơn, chương trình thuộc đối tác |
| Rủi ro nhân sự | Trường gánh: nghỉ việc, thay người giữa năm | Nhà cung cấp gánh, nhưng trường chịu hậu quả với phụ huynh | Đối tác gánh, trường chịu hậu quả với phụ huynh |
| Thương hiệu | Thuộc trường | Thuộc trường, nhà cung cấp ẩn danh | Thường mang tên đối tác, có khi đồng thương hiệu |
| Hợp với | Trường song ngữ, tiếng Anh là định vị chính | Trường mới, tiếng Anh là dịch vụ cộng thêm | Trường nhỏ, chưa đủ quy mô và năng lực quản lý |
Nhiều trường đi qua cả ba giai đoạn: bắt đầu bằng hợp tác ăn chia khi còn nhỏ, chuyển sang thuê theo giờ khi đủ lớp và muốn giữ nhiều phần hơn, rồi tự tổ chức khi đủ quy mô để có tổ chuyên môn tiếng Anh riêng. Hợp đồng ở giai đoạn đầu vì vậy cần có điều khoản chấm dứt và chuyển giao hợp lý, đừng ký điều khoản độc quyền quá dài.
Tự tổ chức: bài toán thật nằm ở giữ giáo viên
Mô hình tự tổ chức nghe hấp dẫn vì trường giữ trọn phần đóng góp. Nhưng chi phí lớn nhất không nằm ở lương mà ở sự gián đoạn. Giáo viên tiếng Anh, đặc biệt giáo viên nước ngoài, có tỷ lệ thay đổi chỗ làm cao hơn giáo viên mầm non người Việt; nhiều người chỉ ở một hai năm. Mỗi lần thay người giữa năm học, trẻ phải làm quen lại, phụ huynh đặt câu hỏi, trường mất công tuyển, làm giấy tờ, đào tạo hội nhập.
Để tự tổ chức bền, trường cần ít nhất ba thứ. Một người phụ trách chuyên môn tiếng Anh, có thể là giáo viên người Việt giỏi, giữ khung chương trình, kế hoạch tuần và hồ sơ theo dõi để khi giáo viên đổi thì chương trình không đổi. Một nguồn tuyển ổn định, qua mạng lưới hoặc đơn vị tuyển dụng có uy tín, cùng quy trình kiểm tra bằng cấp, lý lịch, kinh nghiệm làm việc với trẻ nhỏ. Và một chính sách giữ người: hợp đồng rõ ràng, lịch dạy hợp lý, môi trường làm việc tôn trọng, không xem giáo viên nước ngoài như món trang trí cho buổi tham quan.
Điểm hoà vốn của mô hình này cao hơn hai mô hình kia vì có chi phí cố định. Ví dụ giả định: một giáo viên toàn thời gian dạy được một số lớp nhất định mỗi tuần; nếu trường chỉ có ba lớp mẫu giáo, giáo viên đó dư giờ, chi phí mỗi giờ dạy thực tế rất cao. Khi trường có từ khoảng tám đến mười lớp trở lên, hoặc có thêm lớp ngoại khoá tiếng Anh sau giờ để lấp lịch, bài toán mới bắt đầu có lời. Con số chính xác phụ thuộc vào cơ cấu lương và lịch của từng trường; điều cần làm là tính số giờ dạy thực tế trên số giờ được trả.
Thuê theo giờ và hợp tác ăn chia: những điểm phải chốt trên giấy
Ai là người đứng lớp, có được đổi không. Hợp đồng nên ghi rõ tiêu chuẩn giáo viên, quyền của trường được dự giờ, được yêu cầu thay người nếu không đạt và thời hạn thay. Nếu không ghi, nhà cung cấp có thể xoay vòng nhiều người khác nhau, trẻ không kịp quen ai.
Ai thu tiền của phụ huynh. Trường thu rồi trả đối tác giúp trường kiểm soát quan hệ với phụ huynh và số liệu học sinh. Đối tác thu trực tiếp thì trường đỡ việc nhưng mất thông tin và dễ phát sinh tranh chấp khi phụ huynh khiếu nại. Cách nào cũng cần thể hiện rõ trong quy chế gửi phụ huynh.
Tỷ lệ ăn chia tính trên con số nào. Tính trên doanh thu thực thu hay doanh thu theo biểu phí, có trừ miễn giảm, hoàn tiền khi trẻ nghỉ không, thời điểm đối soát hằng tháng ra sao. Thiếu những dòng này, mỗi tháng đối soát là một lần tranh luận.
Học liệu và dữ liệu thuộc về ai. Học liệu, giáo án, hồ sơ theo dõi trẻ và danh sách phụ huynh khi chấm dứt hợp đồng sẽ xử lý thế nào. Trường nên giữ quyền với dữ liệu học sinh của mình và có quyền tiếp tục dạy tiếng Anh bằng cách khác sau khi chấm dứt.
Điều khoản độc quyền và chấm dứt. Đối tác thường muốn độc quyền nhiều năm. Trường nên giới hạn thời hạn, gắn độc quyền với chỉ tiêu chất lượng, và có quyền chấm dứt khi giáo viên vắng nhiều hoặc phụ huynh phản ánh nghiêm trọng, kèm thời gian báo trước đủ để tìm phương án thay thế.
Trách nhiệm an toàn trong giờ học. Trong tiết tiếng Anh, trẻ vẫn là học sinh của trường. Giáo viên chủ nhiệm hoặc bảo mẫu người Việt nên luôn có mặt; hợp đồng ghi rõ trách nhiệm khi có tai nạn, bảo hiểm và quy tắc ứng xử với trẻ của giáo viên đối tác.
Tính phần đóng góp của dòng tiếng Anh cho từng mô hình
Để so sánh công bằng, hãy quy cả ba mô hình về cùng một thước đo: phần đóng góp mỗi tháng ở mức sĩ số thấp nhất có thể xảy ra. Với mô hình tự tổ chức, lấy doanh thu dòng tiếng Anh trừ lương và chi phí giấy tờ của giáo viên chia theo tháng, học liệu, phần lương của người phụ trách chuyên môn phân bổ cho dòng này. Với thuê theo giờ, lấy doanh thu trừ chi phí thuê và học liệu nếu trường tự mua. Với ăn chia, phần đóng góp là tỷ lệ trường được hưởng trừ công quản lý của trường.
Ví dụ giả định để thấy cấu trúc, không phải số thật của trường nào: ở sĩ số thấp, mô hình ăn chia cho phần đóng góp dương ngay vì trường gần như không có chi phí; mô hình tự tổ chức có thể âm vì giáo viên dư giờ. Khi sĩ số tăng, phần đóng góp của mô hình tự tổ chức tăng nhanh nhất vì chi phí cố định đã được phủ, còn mô hình ăn chia tăng tuyến tính theo tỷ lệ. Có một điểm cắt mà sau đó tự tổ chức có lợi hơn; tìm ra điểm cắt này cho trường mình là lý do chính để làm phép tính.
Đừng quên phần khó định lượng. Nếu tiếng Anh là lý do phụ huynh chọn trường, chất lượng và sự ổn định của nó ảnh hưởng tới tuyển sinh chính khoá, phần doanh thu lớn hơn nhiều. Khi đó, trả thêm cho quyền kiểm soát có thể đáng giá dù phép tính phần đóng góp riêng của dòng tiếng Anh chưa thấy lợi.
Lộ trình đưa tiếng Anh vào một trường mới mở
Với trường mới mở chưa có tổ chuyên môn tiếng Anh, trình tự dưới đây giúp giảm rủi ro mà vẫn giữ đường lui.
- Xác định vị trí của tiếng Anh trong định vị trường: lý do chính, điểm cộng hay chỉ là dịch vụ theo yêu cầu.
- Đối chiếu khung pháp lý hiện hành về chương trình làm quen tiếng Anh và điều kiện giáo viên với cơ quan quản lý giáo dục.
- Gặp ít nhất ba đơn vị cung cấp, xin dự một tiết thật ở trường họ đang phục vụ, không chỉ xem giới thiệu.
- Ký hợp đồng thử một học kỳ, có tiêu chí đánh giá rõ: giáo viên ổn định, phản hồi phụ huynh, hồ sơ theo dõi trẻ đầy đủ.
- Song song, tìm và bồi dưỡng một người phụ trách chuyên môn tiếng Anh của trường để giữ chương trình.
- Sau một năm, tính lại điểm cắt và quyết định giữ mô hình, chuyển sang thuê theo giờ hay tự tổ chức.
Ở mọi bước, giữ nguyên tắc không chấm điểm, không xếp hạng trẻ theo khả năng tiếng Anh, không tổ chức thi cử. Báo cáo với phụ huynh nên mô tả trẻ đã tham gia hoạt động gì, có hứng thú không, đã làm quen với những chủ đề nào, thay vì con số.
Sai lầm khi dùng tiếng Anh làm công cụ tuyển sinh
Tiếng Anh là thứ phụ huynh dễ nhìn thấy và dễ kể lại, nên nhiều trường dùng nó làm mũi nhọn quảng cáo. Rủi ro là hứa quá mức. Những câu như trẻ nói tiếng Anh lưu loát sau một năm, hay giáo viên bản ngữ suốt cả ngày, tạo kỳ vọng mà thực tế khó đáp ứng, và khi phụ huynh thất vọng thì niềm tin vào cả trường giảm theo. Mô tả đúng số tiết, đúng vai trò của giáo viên, đúng mục tiêu làm quen là cách quảng cáo an toàn hơn và bền hơn.
Sai lầm thứ hai là dùng chữ "quốc tế", "song ngữ" trong tên gọi hoặc quảng cáo khi chương trình không tương xứng. Các tên gọi này có thể chịu sự điều chỉnh của quy định về tên trường và về quảng cáo, và phụ huynh ngày càng biết hỏi kỹ. Trước khi đặt tên hay viết tài liệu tuyển sinh, chủ trường nên đối chiếu với quy định hiện hành.
Sai lầm thứ ba là đổi đối tác liên tục để tìm mức ăn chia tốt hơn. Mỗi lần đổi, trẻ đổi giáo viên, đổi cách học, phụ huynh thấy trường thiếu ổn định. Một mối hợp tác trung bình nhưng ổn định nhiều năm thường tốt cho tuyển sinh hơn một chuỗi đối tác giá tốt nhưng ngắn hạn. Ở các hệ thống có chương trình tiếng Anh đồng bộ cho mọi cơ sở, như cách hệ thống Global Star School vận hành dòng tiếng Anh trên các cơ sở tại TP.HCM, bài toán này được giải ở cấp hệ thống; mục cơ hội của trang giới thiệu chi tiết cho nhà đầu tư quan tâm.
Câu hỏi thường gặp
Trẻ nhà trẻ dưới ba tuổi có nên học tiếng Anh ở trường không?
Chương trình làm quen tiếng Anh của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng tới trẻ mẫu giáo. Với nhà trẻ, nhiều chuyên gia khuyên ưu tiên tiếng mẹ đẻ và hoạt động cảm xúc, vận động. Trường muốn đưa tiếng Anh vào nhóm nhà trẻ nên cân nhắc kỹ, chỉ ở mức bài hát, trò chơi ngắn và hỏi ý kiến chuyên môn.
Có nên để trung tâm tiếng Anh thu tiền trực tiếp từ phụ huynh không?
Cách này giảm việc cho trường nhưng làm trường mất kiểm soát thông tin và dễ lẫn lộn trách nhiệm khi có khiếu nại. Nếu chọn cách này, cần quy chế rõ ràng gửi phụ huynh, hợp đồng phân định trách nhiệm, và nên hỏi cơ quan quản lý giáo dục về điều kiện hoạt động của trung tâm tại trường.
Giáo viên người Việt dạy tiếng Anh mầm non có kém hơn giáo viên nước ngoài không?
Không nhất thiết. Với trẻ nhỏ, khả năng tổ chức hoạt động, hiểu tâm lý trẻ và phát âm chuẩn quan trọng hơn quốc tịch. Nhiều trường kết hợp giáo viên Việt giữ chương trình hằng ngày với giáo viên nước ngoài một số tiết; điều quan trọng là năng lực và sự ổn định.
Tỷ lệ ăn chia doanh thu với đối tác tiếng Anh thường là bao nhiêu?
Không có tỷ lệ chuẩn và tỷ lệ phụ thuộc vào việc ai mang giáo viên, học liệu, ai thu tiền, ai chịu chi phí phòng và quản lý. Thay vì hỏi tỷ lệ thị trường, hãy tính phần đóng góp còn lại cho trường sau mọi chi phí của trường ở mức sĩ số thấp để biết thoả thuận có đáng không.
Có được chấm điểm hay kiểm tra tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo không?
Không nên. Tinh thần của chương trình là làm quen, và trẻ mầm non không nên bị chấm điểm hay xếp hạng. Báo cáo với phụ huynh nên mô tả sự tham gia và hứng thú của trẻ. Đối tác nào đề nghị thi chứng chỉ hay xếp hạng để làm điểm bán hàng là dấu hiệu nên cân nhắc lại.
Khi nào nên chuyển từ thuê đối tác sang tự tổ chức?
Khi số lớp đủ để một giáo viên toàn thời gian có lịch dạy gần kín, khi trường đã có người giữ chuyên môn tiếng Anh, và khi tiếng Anh trở thành phần quan trọng trong định vị. Tính lại điểm cắt mỗi năm, và chuyển đổi vào đầu năm học để trẻ không phải đổi giáo viên giữa chừng.