Phí nhượng quyền mầm non thường gồm một khoản phí ban đầu trả khi ký, một khoản phí định kỳ trả hằng tháng hoặc hằng năm (theo phần trăm doanh thu hoặc mức cố định), một khoản đóng góp quỹ marketing chung, và các khoản phí đi kèm như phần mềm quản lý, học liệu, đào tạo thêm, gia hạn và chuyển nhượng. Con số in to nhất trên tài liệu giới thiệu thường chỉ là phí ban đầu; tổng tiền bạn trả cho hệ thống suốt đời hợp đồng có thể lớn hơn nó nhiều lần.
Vì vậy, cách so hai gói nhượng quyền đúng không phải là so phí ban đầu, mà là cộng mọi khoản trả cho hệ thống trong cả thời hạn hợp đồng, đặt cạnh doanh thu dự kiến, rồi xem điểm hoà vốn dịch đi bao nhiêu. Bài này liệt kê từng khoản, giải thích mỗi khoản đổi lấy cái gì, và đưa một phép tính mẫu với số liệu giả định để bạn tự làm với gói của mình.
Các khoản phí thường gặp và mỗi khoản đổi lấy cái gì
Phí nhượng quyền ban đầu. Trả một lần khi ký hợp đồng, để có quyền dùng thương hiệu tại địa điểm của bạn và nhận gói khởi động: đào tạo ban đầu, hướng dẫn chọn và bố trí mặt bằng, bộ tài liệu vận hành, hỗ trợ khai trương. Cần hỏi rõ phí này có hoàn lại phần nào không nếu trường không mở được vì lý do khách quan như không xin được phép.
Phí định kỳ (royalty). Trả đều đặn trong suốt hợp đồng, thường tính theo phần trăm doanh thu hoặc một mức cố định theo tháng, có khi theo số trẻ. Đây là khoản lớn nhất về lâu dài, đổi lấy quyền tiếp tục dùng thương hiệu, chương trình được cập nhật và hỗ trợ liên tục. Một số hệ thống miễn hoặc giảm phí định kỳ trong một hai năm đầu để trường kịp đứng vững.
Quỹ marketing chung. Một phần trăm doanh thu hay mức cố định đóng vào quỹ chung để hệ thống làm quảng bá thương hiệu ở cấp vùng hoặc toàn quốc. Khoản này khác ngân sách quảng cáo địa phương mà bạn vẫn phải tự chi. Nên hỏi quỹ được dùng thế nào và bên nhận quyền có được xem báo cáo chi tiêu không.
Phí công nghệ, phần mềm. Phí dùng phần mềm quản lý học sinh, thu học phí, liên lạc phụ huynh, có khi tính theo số tài khoản hay số trẻ. Cần biết dữ liệu phụ huynh và học sinh nằm ở đâu, ai có quyền truy cập, và khi rời hệ thống bạn có được xuất dữ liệu của trường mình không.
Học liệu và vật tư bắt buộc. Sách, bộ học cụ, đồng phục, đồ dùng theo chuẩn thương hiệu, thường phải mua qua hệ thống hoặc nhà cung cấp được chỉ định. Đây là khoản dễ bị bỏ sót khi so phí, vì nó không mang tên "phí" nhưng chi đều đặn theo số trẻ và theo năm học.
Phí đào tạo thêm, phí gia hạn, phí chuyển nhượng. Đào tạo ban đầu thường nằm trong phí ban đầu, nhưng đào tạo cho giáo viên mới tuyển thay người nghỉ có thể tính riêng. Khi hết hạn, gia hạn có thể kèm một khoản phí và yêu cầu cải tạo lại cơ sở theo chuẩn mới. Khi bán trường cho người khác, hệ thống thường thu phí chuyển nhượng và có quyền duyệt người mua.
Phần trăm doanh thu hay mức cố định: mỗi cách đẩy rủi ro về phía nào
Phí định kỳ tính theo phần trăm doanh thu chia rủi ro giữa hai bên: tháng trường vắng trẻ thì phí cũng giảm, tháng đông thì hệ thống cũng hưởng nhiều hơn. Với trường mới đang lấp lớp, cách này nhẹ cho dòng tiền. Nhược điểm là bạn phải báo cáo doanh thu minh bạch, hệ thống có quyền kiểm tra sổ sách, và khi trường đã đông, số tiền trả có thể lớn hơn nhiều so với hỗ trợ thực tế bạn còn cần.
Phí cố định theo tháng hay theo năm dễ dự tính, không đòi báo cáo doanh thu chi tiết, và có lợi cho trường đã đầy lớp. Nhưng nó đè nặng lên giai đoạn đầu, khi doanh thu còn thấp mà phí vẫn đủ. Một trường lấp lớp chậm sẽ thấy phí cố định chiếm tỷ trọng rất lớn trong doanh thu những tháng đầu.
Phí theo số trẻ nằm giữa hai cách: tăng theo quy mô nhưng không phụ thuộc mức học phí bạn đặt. Cần định nghĩa rõ "trẻ" là trẻ ghi danh, trẻ đi học thực tế hay trẻ đóng phí, và tính thế nào với trẻ học bán buổi, trẻ được miễn giảm.
Không cách nào tốt hơn tuyệt đối. Hỏi đúng là: trong kịch bản trường lấp lớp chậm, mỗi cách làm tổng phí năm đầu và năm hai là bao nhiêu phần trăm doanh thu? Cách nào giữ được dòng tiền trong kịch bản xấu thì đáng cân nhắc hơn, dù trong kịch bản đẹp nó có thể đắt hơn một chút.
Phép tính mẫu: tổng chi phí trả cho hệ thống trong năm năm
Ví dụ giả định dưới đây chỉ để minh hoạ cách cộng, không phản ánh mức phí của bất kỳ hệ thống nào. Giả định một trường có doanh thu tăng dần khi lấp lớp; phí định kỳ 6% doanh thu, miễn năm đầu; quỹ marketing 1% doanh thu từ năm đầu; phí ban đầu 500 triệu đồng; phần mềm 60 triệu đồng mỗi năm; học liệu bắt buộc tính riêng theo trẻ nên không đưa vào bảng.
| Năm (ví dụ giả định) | Doanh thu | Phí ban đầu | Phí định kỳ 6% | Quỹ marketing 1% | Phần mềm | Tổng trả hệ thống |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm 1 | 3,0 tỷ | 500 tr | 0 (miễn) | 30 tr | 60 tr | 590 tr |
| Năm 2 | 5,0 tỷ | — | 300 tr | 50 tr | 60 tr | 410 tr |
| Năm 3 | 6,5 tỷ | — | 390 tr | 65 tr | 60 tr | 515 tr |
| Năm 4 | 7,0 tỷ | — | 420 tr | 70 tr | 60 tr | 550 tr |
| Năm 5 | 7,0 tỷ | — | 420 tr | 70 tr | 60 tr | 550 tr |
Cộng năm năm, ví dụ này trả cho hệ thống khoảng 2,6 tỷ đồng, trong khi phí ban đầu chỉ chiếm chưa tới một phần năm. Hai gói có phí ban đầu chênh nhau gấp đôi có thể có tổng chi phí năm năm gần như ngang nhau nếu phí định kỳ khác nhau. Khi so gói thật, hãy dựng đúng bảng này với số của từng gói và cùng một kịch bản doanh thu, rồi làm thêm một bảng với kịch bản lấp lớp chậm.
Phí nhượng quyền dịch điểm hoà vốn đi bao nhiêu
Điểm hoà vốn của trường mầm non là số trẻ tối thiểu để doanh thu bù được chi phí cố định hằng tháng. Phí nhượng quyền tác động lên phép tính này theo hai cách. Phí cố định cộng thẳng vào chi phí cố định, nên đẩy điểm hoà vốn lên. Phí theo phần trăm doanh thu làm giảm phần đóng góp của mỗi trẻ, tức mỗi trẻ "gánh" được ít chi phí cố định hơn, và điểm hoà vốn cũng tăng, nhưng theo tỷ lệ.
Ví dụ giả định: một trường có chi phí cố định 250 triệu đồng mỗi tháng (thuê, lương khung, khấu hao cải tạo), mỗi trẻ đem lại 5 triệu đồng doanh thu và tốn 1,5 triệu đồng chi phí biến đổi (ăn, học liệu). Phần đóng góp mỗi trẻ là 3,5 triệu, điểm hoà vốn khoảng 72 trẻ. Nếu thêm phí định kỳ và quỹ marketing tổng 7% doanh thu, phần đóng góp còn 3,15 triệu, điểm hoà vốn lên khoảng 80 trẻ. Tám trẻ chênh lệch nghe nhỏ, nhưng với trường đang lấp lớp, đó có thể là hai ba tháng tuyển sinh.
Phép tính này không nói nhượng quyền là đắt. Nó nói bạn cần biết thương hiệu và hệ thống giúp bạn đạt tám trẻ đó nhanh hơn bao lâu so với tự làm. Nếu thương hiệu giúp lấp lớp sớm hơn vài tháng và giữ trẻ tốt hơn, phần phí có thể tự trả cho nó. Nếu thương hiệu lạ ở khu vực của bạn, phần phí thành gánh nặng thuần.
Danh mục tài chính và dòng tiền của trang có bài riêng về cách dựng mô hình hoà vốn đầy đủ; ở đây chỉ cần nhớ một nguyên tắc: luôn tính điểm hoà vốn hai lần, có phí và không có phí, để thấy rõ cái giá của thương hiệu bằng số trẻ.
Những khoản ẩn hay bị bỏ sót khi so gói
Ngoài các khoản ghi rõ tên "phí", nhiều chi phí phát sinh từ yêu cầu chuẩn của hệ thống. Chúng không sai, nhưng phải được đưa vào bảng so sánh, nếu không gói rẻ trên giấy có thể đắt trên thực tế.
- Chuẩn cải tạo, nội thất, thiết bị bắt buộc — có khi chỉ được mua từ nhà cung cấp chỉ định, giá có thể cao hơn thị trường.
- Yêu cầu cải tạo lại sau một số năm hoặc khi gia hạn, để theo nhận diện mới của thương hiệu.
- Chi phí đi lại, ăn ở cho đội ngũ đi đào tạo tập trung, nhất là với nhà đầu tư tỉnh xa.
- Phí tham dự hội nghị, sự kiện bắt buộc của hệ thống.
- Mức chi tối thiểu cho quảng cáo địa phương mà hợp đồng yêu cầu, ngoài quỹ marketing chung.
- Chi phí kiểm toán hoặc kiểm tra sổ sách nếu phát hiện khai thiếu doanh thu.
- Phí chuyển nhượng và chi phí duyệt người mua khi bạn muốn bán trường.
Một câu hỏi gọn giúp lộ ra phần lớn khoản ẩn: "Ngoài phí ban đầu và phí định kỳ, một trường của hệ thống ở năm thứ ba thường trả cho hệ thống và các nhà cung cấp do hệ thống chỉ định những khoản nào?" Bên nhượng quyền nghiêm túc sẽ trả lời bằng một danh sách, không bằng một câu chung chung.
Đọc phí trong bối cảnh hỗ trợ thật
Một hệ thống thu phí định kỳ cao nhưng có đội ngũ chuyên môn đi kiểm tra hằng tháng, cập nhật chương trình đều, đào tạo giáo viên mới không tính thêm tiền và có người hỗ trợ khi trường gặp khủng hoảng, có thể đáng tiền hơn một hệ thống phí thấp mà sau khai trương thì gần như không thấy mặt. Phí chỉ có nghĩa khi đặt cạnh danh sách việc mà hệ thống cam kết làm, và bằng chứng họ đang làm việc đó cho các trường hiện có.
Cách kiểm chứng tốt nhất là nói chuyện với vài chủ trường đang nhận quyền, nhất là những người đã ở trong hệ thống từ hai năm trở lên. Hỏi họ: mỗi tháng hệ thống làm gì cho trường anh chị; lần gần nhất cần hỗ trợ gấp thì ai tới, sau bao lâu; nếu được ký lại, anh chị có ký không. Nếu bên nhượng quyền ngần ngại cho bạn gặp chủ trường hiện hữu, đó là tín hiệu cần chú ý.
Với các hệ thống công bố phí là "thoả thuận riêng", như nhiều chương trình nhượng quyền mầm non hiện nay, bạn càng cần có bảng tổng chi phí của riêng mình để đàm phán. Mục cơ hội đầu tư của trang giới thiệu chương trình nhượng quyền của hệ thống Global Star School cho nhà đầu tư tỉnh; như mọi hệ thống khác, hãy đề nghị một bảng liệt kê đầy đủ các khoản trước khi bàn tới con số.
Câu hỏi thường gặp
Phí nhượng quyền ban đầu có được hoàn lại không?
Tuỳ hợp đồng. Nhiều hệ thống không hoàn lại sau khi đã đào tạo và giao tài liệu. Nên thương lượng điều khoản hoàn lại một phần nếu trường không mở được vì lý do khách quan, ví dụ không được cấp phép hoạt động giáo dục dù đã làm đúng hướng dẫn.
Phí định kỳ bao nhiêu phần trăm doanh thu là hợp lý?
Không có mức chung cho ngành mầm non tại Việt Nam được công bố đáng tin. Cách đánh giá là xem phí đó làm điểm hoà vốn tăng bao nhiêu trẻ và đổi lại bạn nhận được hỗ trợ gì, rồi so với tự làm. Mức hợp lý là mức trường vẫn có lãi trong kịch bản lấp lớp chậm.
Phí nhượng quyền có được tính vào chi phí khi quyết toán thuế không?
Thông thường các khoản phí có hợp đồng, hoá đơn, chứng từ hợp lệ và phục vụ hoạt động kinh doanh có thể được xem xét là chi phí, nhưng cách hạch toán, phân bổ phí ban đầu và nghĩa vụ thuế khi trả cho bên nước ngoài cần hỏi kế toán hoặc tư vấn thuế theo quy định hiện hành.
Học phí do trường tự đặt hay do hệ thống quyết định?
Về nguyên tắc, bên nhận quyền kinh doanh bằng danh nghĩa của mình và tự quyết giá, nhưng hệ thống thường đưa khung giá khuyến nghị để giữ định vị thương hiệu. Cần hỏi rõ khung đó là bắt buộc hay tham khảo, và phí định kỳ tính trên học phí niêm yết hay số thực thu.
Quỹ marketing chung có dùng để quảng bá riêng cho trường mình không?
Thường không trực tiếp; quỹ chung dùng cho nhận diện thương hiệu, nội dung, chiến dịch cấp vùng hoặc toàn hệ thống. Trường vẫn cần ngân sách tuyển sinh địa phương riêng. Nên hỏi cách phân bổ quỹ và đề nghị được xem báo cáo chi tiêu định kỳ.
Có nên chọn gói phí ban đầu thấp nhất không?
Không nên chọn chỉ vì phí ban đầu thấp. Gói phí ban đầu thấp có thể đi kèm phí định kỳ cao, học liệu bắt buộc đắt hoặc hỗ trợ mỏng. Hãy so tổng chi phí trong cả thời hạn hợp đồng với cùng một kịch bản doanh thu, và so mức hỗ trợ thực tế.